Bộ Giáo dục yêu cầu không để học sinh bỏ học vì hoàn cảnh
Bộ Giáo dục yêu cầu ưu tiên nguồn lực cho học sinh có nguy cơ bỏ học vì hoàn cảnh kinh tế, khoảng cách đến trường, ngôn ngữ hoặc khuyết tật; đồng thời lưu ý việc sắp xếp trường lớp không được làm tăng khoảng cách đi học của trẻ.
Bộ Giáo dục yêu cầu giảm học thuộc, hạn chế áp lực cho học sinh
Loạt quy định mới về giáo dục người dân cần biết từ tháng 8
Từ vụ lùm xùm thi cử: Giáo dục không thể được đo bằng những con số đẹp
Theo sát từng học sinh có nguy cơ bỏ học
Trong hướng dẫn nhiệm vụ giáo dục phổ thông tại Công văn 5208/BGDĐT-GDPT ngày 7/8 năm học 2026-2027, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các địa phương rà soát, cập nhật dữ liệu trẻ em, học sinh trong độ tuổi giáo dục bắt buộc và phổ cập giáo dục theo địa bàn dân cư.
Thông tin về tình trạng đi học, chưa đi học, bỏ học, chuyển đi, chuyển đến và những trường hợp cần hỗ trợ phải được quản lý đầy đủ, kịp thời và thống nhất với cơ sở dữ liệu ngành.
Trách nhiệm của UBND cấp xã và cơ sở giáo dục trong việc điều tra, huy động trẻ đến trường, duy trì sĩ số, xử lý trường hợp bỏ học và cập nhật dữ liệu cũng phải được phân định rõ.
Bộ yêu cầu nhà trường phối hợp với gia đình, chính quyền và các tổ chức liên quan để bảo đảm trẻ trong độ tuổi được đi học, đồng thời hỗ trợ sớm những học sinh có nguy cơ gián đoạn việc học.
Không để thiếu thốn cản đường đến trường, ưu tiên nền tảng tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số
Công bằng trong tiếp cận giáo dục được Bộ đặt song song với yêu cầu thực hiện giáo dục bắt buộc.
Các địa phương được yêu cầu ưu tiên nguồn lực cho những địa bàn, cơ sở giáo dục còn khó khăn và học sinh có nguy cơ gián đoạn việc học. Chính sách hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn phải được thực hiện đầy đủ, kịp thời.
Những điều kiện được Bộ nhấn mạnh gồm sách giáo khoa, học liệu, bán trú, nội trú, dinh dưỡng, tư vấn tâm lý và kết nối an sinh xã hội.
Các rào cản do hoàn cảnh kinh tế, khoảng cách địa lý, khuyết tật, ngôn ngữ hay biến động dân cư cũng phải được tính đến. Mục tiêu cuối cùng là duy trì sĩ số, hạn chế học sinh bỏ học và giúp các em hoàn thành chương trình.
Bộ cũng yêu cầu bảo đảm học sinh có đủ sách giáo khoa, tài liệu và học liệu trước năm học mới; có giải pháp hỗ trợ để học sinh khó khăn không bị thiếu những điều kiện học tập thiết yếu.
Đối với học sinh ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, việc nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho học sinh tiểu học tiếp tục được xác định là nhiệm vụ quan trọng.
Các trường được yêu cầu chú trọng chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ trước khi vào lớp Một, giúp học sinh có năng lực học tập, giao tiếp và tiếp cận chương trình.
Với học sinh dân tộc thiểu số, nhà trường cần củng cố kiến thức nền tảng, kỹ năng tự học, tư vấn tâm lý, hướng nghiệp và phòng ngừa bỏ học.
Bộ đồng thời yêu cầu tiếp tục triển khai, mở rộng việc dạy tiếng dân tộc thiểu số đã có chương trình, sách giáo khoa phù hợp với nhu cầu học sinh, qua đó vừa hỗ trợ học tập vừa góp phần bảo tồn, phát triển ngôn ngữ các dân tộc.
Tại các tỉnh biên giới, việc dạy ngôn ngữ các nước láng giềng cũng được triển khai theo hướng dẫn của Bộ.
Học sinh khuyết tật có kế hoạch giáo dục riêng, sắp xếp trường lớp không làm tăng khoảng cách đến trường
Với học sinh khuyết tật, việc dạy học và hỗ trợ phải căn cứ khả năng, nhu cầu và kế hoạch giáo dục cá nhân.
Bộ yêu cầu các trường bảo đảm nội dung Chương trình giáo dục phổ thông kết hợp với những kỹ năng đặc thù phù hợp từng dạng khuyết tật, giúp học sinh tăng khả năng hòa nhập cuộc sống.
Nhà trường cũng cần phối hợp với gia đình, cơ sở y tế, tổ chức xã hội và cộng đồng trong giáo dục, chăm sóc, phục hồi chức năng và hỗ trợ học sinh tham gia các hoạt động phù hợp.
Một điểm đáng chú ý trong công văn là yêu cầu sắp xếp mạng lưới trường, lớp gắn với mục tiêu tinh gọn đầu mối nhưng không được làm giảm cơ hội tiếp cận giáo dục.
Bộ đặt mục tiêu giảm tối thiểu 30% số đầu mối cơ sở giáo dục công lập so với thời điểm 1/7/2025, nơi có điều kiện thuận lợi có thể giảm khoảng 50%. Tuy nhiên, công văn nhấn mạnh không áp dụng cơ học tỷ lệ này cho từng cấp học và từng địa phương.
Việc dồn ghép điểm trường tại vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và địa bàn đi lại khó khăn phải được rà soát kỹ. Không được sắp xếp theo cách làm giảm cơ hội đến trường, tăng khoảng cách đi học hoặc ảnh hưởng an toàn của học sinh.
Theo Bộ, việc tinh gọn mạng lưới phải đi cùng bảo đảm quyền học tập. Trường học có thể thay đổi về tổ chức, nhưng khoảng cách từ học sinh đến cơ hội học tập không được trở thành một rào cản mới.
Việc giữ một học sinh ở lại trường không chỉ là duy trì một con số sĩ số, mà còn là bảo đảm cơ hội học tập và tương lai của một đứa trẻ. Với những em ở vùng khó, thuộc gia đình nghèo, dân tộc thiểu số hoặc có khuyết tật, một rào cản nhỏ về sách vở, ngôn ngữ, khoảng cách hay điều kiện đi lại cũng có thể trở thành lý do khiến việc học bị gián đoạn.
Công văn của Bộ đặt trách nhiệm này không chỉ lên nhà trường mà còn yêu cầu gia đình, chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan cùng tham gia phát hiện, hỗ trợ học sinh có nguy cơ bỏ học. Trong quá trình sắp xếp lại mạng lưới trường lớp, yêu cầu đặt ra là tinh gọn nhưng không đánh đổi cơ hội đến trường của học sinh.