Thứ sáu, 16/10/2026
logo
Tiêu điểm

Trực tiếp: Tọa đàm 'Truy xuất nguồn gốc - Lá chắn bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng' lần 2

Nhóm PV • Thứ tư, 09/09/2026, 13:52 (GMT+7)

Chiều 9/9, tại TP. Hồ Chí Minh, Tạp chí Tiếp thị & Gia đình phối hợp với Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương tổ chức tọa đàm “Truy xuất nguồn gốc - Lá chắn bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng” lần 2.

Sắp diễn ra tọa đàm 'Truy xuất nguồn gốc - Lá chắn bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng' lần 2

Tọa đàm truy xuất nguồn gốc lần 2: Cơ quan quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp cùng tìm lời giải

Tham dự tọa đàm “Truy xuất nguồn gốc - Lá chắn bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng” có đại diện cơ quan quản lý nhà nước, chuyên gia trong lĩnh vực truy xuất nguồn gốc, công nghệ cùng đông đảo doanh nghiệp. Chương trình tập trung trao đổi về những quy định mới liên quan đến truy xuất nguồn gốc hàng hóa, yêu cầu doanh nghiệp cần chuẩn bị cũng như những vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai thực tế.

tx22-1438
Tham dự tọa đàm có đại diện cơ quan quản lý nhà nước, chuyên gia trong lĩnh vực truy xuất nguồn gốc, công nghệ cùng đông đảo doanh nghiệp.

Tọa đàm diễn ra trong bối cảnh các quy định mới về truy xuất nguồn gốc đang từng bước được áp dụng. Trong đó, Bộ Công Thương đã ban hành các văn bản quy định về truy xuất nguồn gốc đối với nhóm sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao và danh mục hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình, rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý.

Những quy định này đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với doanh nghiệp, đồng thời thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng trong bối cảnh yêu cầu minh bạch thông tin hàng hóa ngày càng được chú trọng.

tx4-1442
Phiên thảo luận tập trung làm rõ những vấn đề doanh nghiệp đang quan tâm trong quá trình thực hiện truy xuất nguồn gốc.

Tham gia phiên thảo luận là các chuyên gia, diễn giả đến từ cơ quan quản lý, đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ và cộng đồng doanh nghiệp, gồm ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương; ông Phạm Văn Quân, Chủ tịch Công ty Cổ phần Công nghệ Checkee; ông Phạm Trung Phan Xuân Quang, Giám đốc Quản lý hệ thống, Công ty Cổ phần Thành Thành Công - Biên Hòa (AgriS); cùng bà Hoàng Thị Thu Giang, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đồ Uống Mới.

tx3-1437
Tham gia phiên thảo luận là các chuyên gia, diễn giả đến từ cơ quan quản lý, đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ và cộng đồng doanh nghiệp.

Phiên thảo luận tập trung làm rõ những vấn đề doanh nghiệp đang quan tâm trong quá trình thực hiện truy xuất nguồn gốc, từ yêu cầu quản lý, giải pháp công nghệ đến kinh nghiệm triển khai thực tế tại doanh nghiệp.

Nội dung tọa đàm liên tục được cập nhật trên Tạp chí Tiếp thị & Gia đình!

Phát biểu khai mạc tọa đàm, ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công thương cho biết, trước đó vào tháng 7/2026, cả hai đơn vị đã tổ chức tọa đàm lần thứ nhất về truy xuất nguồn gốc tại Hà Nội, ngay sau khi Bộ Công Thương ban hành các quy định liên quan. Sự quan tâm của đông đảo doanh nghiệp tại chương trình cho thấy truy xuất nguồn gốc đang trở thành vấn đề được cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt quan tâm trong quá trình thực hiện các chính sách mới.

“Truy xuất nguồn gốc là vấn đề đã được nói đến rất nhiều, nhưng trong thực tế triển khai, mỗi doanh nghiệp lại có một cách hiểu, một cách làm khác nhau. Doanh nghiệp băn khoăn không biết phải thực hiện như thế nào, QR Code cần sử dụng ra sao, tem truy xuất nguồn gốc phải dán và quản lý như thế nào. Có doanh nghiệp kỳ vọng việc dán tem, sử dụng mã QR có thể giúp ngăn chặn hàng giả, nhưng thực tế không đơn giản như vậy. Thậm chí, đã có trường hợp tem chống hàng giả cũng bị làm giả.

tx5-1502
Ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công thương.

Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển nhanh, các phương thức làm giả ngày càng tinh vi, vì vậy điều quan trọng là doanh nghiệp phải hiểu đúng về truy xuất nguồn gốc, thay vì chỉ coi đây là việc dán một chiếc tem hay một mã QR lên sản phẩm. Truy xuất nguồn gốc cần được nhìn nhận là một hệ thống quản lý thông tin, giúp minh bạch quá trình hình thành và lưu thông của hàng hóa.

Từ thực tế đó, mục tiêu của tọa đàm lần này là cùng cơ quan quản lý, các chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp làm rõ truy xuất nguồn gốc thực chất là gì, doanh nghiệp cần chuẩn bị những gì và phải triển khai như thế nào cho đúng.

Khi doanh nghiệp hiểu đúng và thực hiện đúng, truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp đáp ứng yêu cầu quản lý mà còn góp phần bảo vệ thương hiệu, nâng cao hiệu quả quản trị và tạo niềm tin cho người tiêu dùng”, ông Nguyễn Hữu Linh nhấn mạnh.

Phát biểu tại toạ đàm, Tổng biên tập Tạp chí Tiếp Thị & Gia đình, ông Hoàng Vững cho biết, trong khi yêu cầu công khai, minh bạch của các cơ quan quản lý, của thị trường xuất khẩu và người tiêu dùng trong nước ngày càng cao, toạ đàm lần này sẽ góp thêm một góc nhìn, giúp cho cơ quan quản lý - doanh nghiệp có thêm được tiếng nói chung trong câu chuyện truy xuất nguồn gốc, để hàng hoá, thương hiệu được người tiêu dùng yên tâm hơn, doanh nghiệp làm ăn ngày càng bài bản, trách nhiệm và hiệu quả hơn.

“Đây là toạ đàm thứ 2 về cùng một chủ đề - chỉ trong hơn 3 tháng, do Tiếp thị & Gia đình phối hợp với Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước tổ chức, với sự tham gia rất đông đảo của cộng đồng doanh nghiệp, không chỉ DN nhỏ và vừa mà cả những DN lớn nhất trong ngành đồ uống, thực phẩm, phân bón, xăng dầu… Điều đó cho thấy sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng doanh nghiệp đối với chính sách này.

tx12-1609
Tổng biên tập Tạp chí Tiếp Thị & Gia đình, ông Hoàng Vững cho biết, toạ đàm lần này sẽ góp thêm một góc nhìn, giúp cho cơ quan quản lý - doanh nghiệp có thêm được tiếng nói chung trong câu chuyện truy xuất nguồn gốc.

Truy xuất nguồn gốc, vì thế, đã và đang trở thành một phương thức quản lý hiện đại, không thể thiếu của cả Nhà nước và chính doanh nghiệp. Với doanh nghiệp, đây còn là “tài sản” nếu biết cách quản lý, vận hành khoa học, hiệu quả bởi không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản trị nội bộ mà còn chiếm được lòng tin, cảm tình của người tiêu dùng hiện đại”, TBT Hoàng Vững nhấn mạnh.

MC: Thưa ông, hiện nay bức tranh truy xuất nguồn gốc khá lộn xộn. Rất nhiều sản phẩm có QR code, nhưng khi quét chỉ hiện thông tin quảng cáo hoặc giới thiệu sản phẩm. Theo ông, sự khác nhau giữa một mã QR thông thường và một hệ thống truy xuất nguồn gốc thực sự là gì?

Ông Trần Hữu Linh: Truy xuất nguồn gốc, về bản chất, là việc doanh nghiệp quản lý được càng đầy đủ càng tốt toàn bộ chu trình tạo ra sản phẩm của mình, từ khâu nguyên liệu đầu vào, quá trình sản xuất bên trong doanh nghiệp cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng.

Còn QR code hay các hình thức nhận diện khác chỉ là phương tiện để thể hiện và cung cấp những thông tin đó. Trước đây, doanh nghiệp có thể sử dụng tem, sau đó là mã vạch và hiện nay phổ biến hơn là QR code.

Tuy nhiên, việc một sản phẩm có QR code không đồng nghĩa với việc sản phẩm đó đã có một hệ thống truy xuất nguồn gốc đầy đủ. QR code chỉ thực sự có ý nghĩa khi phía sau nó là một hệ thống dữ liệu được doanh nghiệp xây dựng và quản lý một cách minh bạch, có khả năng cung cấp thông tin về quá trình hình thành sản phẩm.

tx8-1601

Thực tế, có doanh nghiệp muốn công khai rất nhiều thông tin, nhưng cũng có doanh nghiệp chỉ muốn cung cấp một phần thông tin nhất định cho người tiêu dùng. Đây là câu chuyện về mức độ minh bạch và cách thức doanh nghiệp lựa chọn để công khai dữ liệu của mình.

Tuy nhiên, truy xuất nguồn gốc hiện nay không còn đơn thuần là câu chuyện doanh nghiệp muốn làm đến đâu thì làm. Nhà nước đã ban hành những quy định cụ thể về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa, trong đó đặt ra yêu cầu các bộ, ngành quản lý từng lĩnh vực phải quy định sản phẩm nào bắt buộc phải thực hiện truy xuất nguồn gốc và doanh nghiệp phải công khai những thông tin gì.

Chẳng hạn, với những sản phẩm thuộc diện bắt buộc, doanh nghiệp có thể phải cung cấp các thông tin như tên sản phẩm, số lô, số mẻ, ngày sản xuất, hạn sử dụng và các thông tin liên quan khác. Bộ Công Thương cũng như các bộ, ngành đang từng bước hoàn thiện các quy định về cách thức truy xuất và danh mục sản phẩm phải thực hiện. Danh mục này cũng có thể được điều chỉnh theo từng giai đoạn, tùy thuộc vào yêu cầu quản lý thực tế.

Đặc biệt, hiện nay Chính phủ đang giao Bộ Công an lấy ý kiến về dự thảo liên quan đến định danh sản phẩm và truy xuất sản phẩm. Theo hướng dự thảo mà tôi đã xem qua, về lâu dài, mỗi sản phẩm tồn tại trên thị trường đều có thể được định danh, còn những sản phẩm thuộc diện bắt buộc truy xuất sẽ phải gửi dữ liệu đến Cổng truy xuất nguồn gốc của Chính phủ do Bộ Công an vận hành.

Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên chuyển đổi số, khi từng thửa đất có thể được định danh, từng cá nhân có định danh điện tử như VNeID. Sản phẩm cũng đang đi theo xu hướng đó. Vì vậy, doanh nghiệp cần nhìn nhận truy xuất nguồn gốc không chỉ là việc gắn một mã QR lên bao bì, mà là một phần của quá trình số hóa và minh bạch hóa toàn bộ chuỗi sản xuất, lưu thông của sản phẩm.

MC: Vậy đối với những mặt hàng diện bắt buộc phải truy xuất nguồn gốc, đã có chế tài nào xử lý nếu doanh nghiệp đến thời điểm đó mà vẫn chưa thực hiện, thưa ông?

Ông Trần Hữu Linh: Nếu doanh nghiệp không thực hiện theo quy định, sau này các lực lượng kiểm tra, chẳng hạn lực lượng quản lý thị trường, có thể kiểm tra tương đối đơn giản. Họ chỉ cần nhìn trên sản phẩm xem có phương tiện để người tiêu dùng thực hiện truy xuất nguồn gốc hay không.

Sau đó, cơ quan chức năng có thể quét mã QR hoặc mã vạch để kiểm tra xem thông tin được cung cấp có đầy đủ, chính xác và đáp ứng những nội dung mà pháp luật quy định phải công khai hay không.

Các quy định về truy xuất nguồn gốc cũng đi kèm với những yêu cầu cụ thể về nội dung thông tin, đồng thời có các quy định về xử phạt đối với những trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng. Vì vậy, doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu kỹ các quy định để biết mình phải thực hiện những nội dung gì, tránh trường hợp làm thiếu, làm sai hoặc không đáp ứng đầy đủ yêu cầu.

MC: Như ông Linh vừa nói, Thông tư của bộ Công Thương đã đẩy nhanh tiến độ hàng hóa bắt buộc truy xuất sớm 6 tháng so với các kế hoạch/dự thảo trước. Từ nay tới 1/1/2027 đã rất gần. Ông nhận thấy sự quan tâm/chuẩn bị của các doanh nghiệp với quy định này ra sao sau hơn 2 tháng thông tư có hiệu lực?

Ông Phạm Văn Quân, Chủ tịch Công ty Cổ phần Công nghệ Checkee: 

Theo tôi, hiện nay các doanh nghiệp đã nhận được thông tin chính thức về quy định từ ngày 1/7/2026. Với việc triển khai truy xuất nguồn gốc đã được chúng tôi đồng hành trong nhiều năm qua, tôi nhận thấy các doanh nghiệp đã và đang sẵn sàng hơn cho quá trình chuyển đổi, từ truy xuất thông tin sang truy xuất nguồn gốc một cách bài bản.

Trong thời gian qua, chúng tôi cảm nhận rất rõ doanh nghiệp đang chú trọng hơn và nghiêm túc hơn với vấn đề này. Một số doanh nghiệp đã triển khai khá bài bản, có thể kể đến như TH true MILK hay các doanh nghiệp trong lĩnh vực gas.

Theo tôi, truy xuất nguồn gốc trước hết phải định danh được sản phẩm một cách rõ ràng. Khi đã có định danh, chúng ta phải quản lý được thông tin và theo dõi được vòng đời của sản phẩm, từ quá trình sản xuất, lưu thông cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng.

tx10-1606
Theo ông Quân, các doanh nghiệp đã và đang sẵn sàng hơn cho quá trình chuyển đổi, từ truy xuất thông tin sang truy xuất nguồn gốc một cách bài bản.

Một vấn đề nữa tôi cho rằng doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý là dữ liệu. Dữ liệu truy xuất phải được lưu trữ theo đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia, bảo đảm tính thống nhất và có thể sử dụng, đối soát khi cần thiết.

Tôi cũng mong muốn các doanh nghiệp lưu ý thực hiện đúng chuẩn ngay từ đầu. Bởi nếu dữ liệu không được chuẩn hóa thì việc truy xuất sẽ khó phát huy hiệu quả. Truy xuất nguồn gốc không nên chỉ dừng lại ở việc có một mã để người tiêu dùng quét, mà quan trọng hơn là đằng sau mã đó phải có hệ thống dữ liệu đầy đủ, chính xác và phản ánh được vòng đời của sản phẩm.”

Ông Quân nhấn mạnh, khi doanh nghiệp thực sự coi dữ liệu là nền tảng và triển khai truy xuất theo hướng bài bản, hệ thống này sẽ không chỉ đáp ứng yêu cầu quản lý mà còn trở thành công cụ hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quản trị và tạo dựng niềm tin với người tiêu dùng.

MC: Chuyên gia đánh giá thế nào về “thông điệp” này (có thể so thêm bộ khác về danh mục hàng hóa phải TXNG) cũng như nhìn nhận sao về bức tranh chung của doanh nghiệp với vấn đề truy xuất nguồn gốc?

Ông Phạm Văn Quân: Theo tôi, thông điệp quan trọng ở đây là truy xuất nguồn gốc sẽ được triển khai theo một lộ trình, chứ không thể yêu cầu tất cả các ngành hàng cùng chuyển đổi ngay trong một thời điểm.

Trong Đề án 100 của Chính phủ từ năm 2019, chúng ta đã xác định hai giai đoạn. Giai đoạn đến năm 2025 tập trung xây dựng cơ chế, chính sách, quy định và triển khai thí điểm đối với một số sản phẩm, mô hình. Mục tiêu đến năm 2030 là hầu hết các sản phẩm phải thực hiện truy xuất nguồn gốc.

Nếu ngay lập tức yêu cầu tất cả các ngành hàng triển khai đầy đủ thì có thể tạo ra một sự xáo trộn nhất định, bởi số lượng ngành hàng rất lớn và không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ điều kiện để chuyển đổi ngay. Vì vậy, cách tiếp cận hiện nay là lựa chọn trước những nhóm sản phẩm có mức độ rủi ro cao để triển khai bắt buộc. Đối với những sản phẩm có mức độ rủi ro trung bình và thấp thì khuyến khích triển khai, đồng thời xây dựng lộ trình phù hợp.

Nhưng tôi cho rằng doanh nghiệp không nên nhìn truy xuất nguồn gốc đơn thuần là một yêu cầu bắt buộc của pháp luật. Quan trọng hơn, đây là công cụ để doanh nghiệp bảo vệ thương hiệu, bảo vệ người tiêu dùng và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Đặc biệt, với những doanh nghiệp hướng tới thị trường quốc tế, truy xuất nguồn gốc sẽ ngày càng trở thành một yêu cầu không thể né tránh.

tx15-1632
Ông Quân (phải) cho rằng doanh nghiệp không nên nhìn truy xuất nguồn gốc đơn thuần là một yêu cầu bắt buộc của pháp luật.

Tôi thường hình dung câu chuyện này giống như việc chúng ta đi ô tô trên cao tốc. Cách đây vài năm, có tiền mặt thì vẫn có thể đi. Sau đó, tiền mặt vẫn có thể sử dụng nhưng các hình thức thanh toán điện tử bắt đầu được áp dụng. Và đến một thời điểm, nếu muốn đi qua những tuyến cao tốc áp dụng thu phí tự động thì phương tiện phải đáp ứng những yêu cầu nhất định về nhận diện và thanh toán.

Hàng hóa cũng tương tự như vậy. Với những nhóm sản phẩm có rủi ro cao, chúng ta có thể hình dung đó là “cao tốc” và việc truy xuất nguồn gốc là một điều kiện để tham gia. Còn những sản phẩm có rủi ro trung bình, rủi ro thấp có thể giống như những tuyến đường dân sinh, trước mắt có thể chưa bắt buộc ở mức độ cao như vậy.

Tuy nhiên, tôi tin rằng xu hướng trong tương lai là hệ thống quản lý sẽ ngày càng được số hóa và kết nối sâu hơn. Ngay cả những tuyến đường dân sinh cũng sẽ dần được trang bị các hệ thống giám sát, camera, công nghệ AI để quản lý. Với hàng hóa cũng vậy, yêu cầu về định danh, minh bạch dữ liệu và truy xuất nguồn gốc sẽ ngày càng trở thành một phần tất yếu của thị trường.

Vì vậy, doanh nghiệp nên chủ động chuẩn bị từ sớm, thay vì chờ đến khi quy định bắt buộc mới bắt đầu chuyển đổi. Khi đó, truy xuất nguồn gốc không còn là gánh nặng tuân thủ mà có thể trở thành lợi thế cạnh tranh và công cụ để xây dựng niềm tin với người tiêu dùng.

MC: Được biết mới đây, nhiều mặt hàng không còn là ngành kinh doanh có điều kiện, như bia rượu chẳng hạn, vậy cơ chế quản lý với nhóm mặt hàng này ra sao, và liệu truy xuất nguồn gốc sẽ là công cụ chính?

Ông Phạm Trung Phan Xuân Quang: Trong quá trình hoạt động, Thành  Thành Công đã có hơn 5-6 năm kinh nghiệm trong ngành thực phẩm. Trong suốt quá trình đó, mục tiêu của Thành Thành Công là nâng cao năng lực và tăng sức cạnh tranh cho các sản phẩm của mình trên thị trường.

Vì vậy, chúng tôi không chờ đến khi Nhà nước có quy định hay chính sách khuyến khích mới thực hiện truy xuất nguồn gốc và xác định giá trị sản phẩm. Thành Thành Công luôn chủ động, tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ, đầu tư cho chuyển đổi số và ghi nhận dữ liệu trong quá trình sản xuất, kinh doanh.

tx13-1627
Theo ông Quang, đây là cơ hội để nâng cao giá trị cho các sản phẩm mà doanh nghiệp đang phát triển.

Như anh Quân vừa chia sẻ, truy xuất nguồn gốc thực chất là một hành trình của dữ liệu. Quan trọng nhất là phải bảo đảm tính minh bạch và chính xác của dữ liệu khi cung cấp ra thị trường, đồng thời đáp ứng nhu cầu truy xuất khi có vấn đề phát sinh.

Cùng với cơ chế của Nhà nước đang khuyến khích doanh nghiệp đẩy mạnh triển khai các ứng dụng này, chúng tôi nhìn nhận đây là một cơ hội để nâng cao giá trị cho các sản phẩm mà doanh nghiệp đang phát triển. Điều này cũng phù hợp với xu hướng mà Thành Thành Công đang hướng tới, đó là nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng đến thị trường nước ngoài.

Do đó, những quy định cũng như hệ thống mà Nhà nước có thể hỗ trợ để doanh nghiệp đẩy mạnh các hoạt động này thì doanh nghiệp rất sẵn sàng đồng hành. Chúng tôi cũng chủ động đầu tư và kết nối với các hệ thống của Nhà nước để cùng thúc đẩy hoạt động truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số.

MC: Từ góc nhìn doanh nghiệp, đại diện Công ty Đồ uống mới (bà Hoàng Thị Thu Giang) và Thành Công Biên Hoà - ông Phạm Trung Phan Xuân Quang có ý kiến gì thêm không?

Bà Hoàng Thị Thu Giang, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đồ Uống Mới: Theo tôi, câu chuyện truy xuất nguồn gốc đang đặt ra yêu cầu rất rõ đối với ngành rượu, một lĩnh vực vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết Hiện nay các doanh nghiệp đang có xu hướng né tránh ngành rượu khi nói đến câu chuyện truy xuất nguồn gốc. Tôi cho rằng đây là một trong những ngành đang có mức độ truy xuất còn yếu. Có thể nói, khoảng 90% lượng rượu trên thị trường Việt Nam hiện nay chưa được xác định rõ nguồn gốc.

Thực tế, cách đây khoảng 15 năm, doanh nghiệp chúng tôi đã bắt đầu triển khai những bước đầu tiên trong việc dán tem chống hàng giả, với mục đích không chỉ để bảo vệ sản phẩm mà còn hướng tới việc truy xuất nguồn gốc.

tx14-1627
Theo bà Giang, doanh nghiệp sẵn sàng công khai, minh bạch quy trình sản xuất, nguồn nguyên liệu và các thông tin liên quan đến sản phẩm.

Về bản chất, doanh nghiệp chúng tôi luôn có ý thức phải làm rõ sản phẩm của mình có nguồn gốc từ đâu, ngày sản xuất là ngày nào, thuộc lô sản xuất nào, nguyên liệu và hàng hóa được mua từ đâu... Những thông tin đó đều rất cần thiết để có thể kiểm soát được sản phẩm trong suốt quá trình lưu thông.

Tuy nhiên, vấn đề tôi nhìn thấy là quá trình thực thi pháp luật trong thời gian qua chưa thực sự triệt để. Trong khi đó, về phía doanh nghiệp, chúng tôi sẵn sàng công khai, minh bạch quy trình sản xuất, nguồn nguyên liệu và các thông tin liên quan đến sản phẩm.

Nhưng doanh nghiệp cũng cần được bảo vệ. Khi chúng tôi thực hiện đúng quy định, công khai và minh bạch toàn bộ quy trình của mình thì Nhà nước cũng cần có cơ chế bảo vệ những doanh nghiệp làm ăn chân chính, đồng thời xử lý nghiêm những trường hợp cố tình làm sai, làm hàng không rõ nguồn gốc.

Tôi cho rằng nếu làm được như vậy thì truy xuất nguồn gốc mới thực sự tạo ra một môi trường cạnh tranh công bằng. Doanh nghiệp nghiêm túc sẽ có động lực đầu tư, người tiêu dùng được bảo vệ, còn những sản phẩm không rõ nguồn gốc sẽ từng bước bị loại khỏi thị trường.

MC: "Nếu người tiêu dùng quét mã nhưng không thể biết nguyên liệu đến từ đâu; sản xuất khi nào; lô hàng nào; đơn vị nào chịu trách nhiệm… thì có thể gọi đó là truy xuất nguồn gốc được không?" (như ví dụ sản phẩm trong phóng sự) và với các sản phẩm nhập khẩu, trải qua nhiều công đoạn từ sản xuất, nhập khẩu – phân phối… thì quy định về TXNG như thế nào, thưa ông?  

Ông Trần Hữu Linh: Thông tin về sản phẩm và mã ban đầu thì chúng ta có thể tìm được thông tin sản phẩm, nhưng không phải sản phẩm nào khi quét vào cũng có thể thấy được đầy đủ, chi tiết như chúng ta mong muốn.

Trong thời gian vừa qua, truy xuất nguồn gốc đôi khi trở thành một phong trào, sản phẩm cứ phải gắn một cái mã gì đó lên trên để nhìn vào có vẻ hiện đại. Nhưng thực tế, cá nhân tôi nhiều lần khi mua rượu, bánh kẹo, trái cây và truy xuất thì thông tin có khi chỉ là sao chép của nhau, hoặc doanh nghiệp làm mang tính đối phó, đưa một cái mã lên sản phẩm nhưng khi quét chỉ ra những thông tin rất cơ bản, không có nhiều giá trị.

Tôi nghĩ đây là vấn đề mà báo chí cần tuyên truyền để người tiêu dùng hiểu đúng. Truy xuất nguồn gốc trước hết phải phục vụ chính doanh nghiệp. Vì vậy, tôi rất thích tiêu đề của tọa đàm là “Lá chắn bảo vệ doanh nghiệp”, tức là trước hết phải bảo vệ doanh nghiệp. Doanh nghiệp làm tốt, có ý thức thì đương nhiên người tiêu dùng cũng được bảo vệ và có thêm niềm tin.

Còn nếu doanh nghiệp chỉ đưa một cái mã lên sản phẩm, khi quét thì không đi đâu cả, hoặc lại dẫn đến một trang web khác, thì việc đó không có nhiều ý nghĩa. Khi lực lượng chức năng đi kiểm tra, nếu thông tin không đầy đủ thì cũng rất khó để kiểm tra, quản lý.

Ví dụ như mặt hàng rượu. Khi Bộ Công Thương xây dựng quy định về truy xuất nguồn gốc đối với các sản phẩm, trong đó có thực phẩm, đồ uống, sữa, rượu bia, ban đầu cũng có nhiều ý kiến phản ứng từ doanh nghiệp. Doanh nghiệp cho rằng đây là những mặt hàng bình dân, nếu bắt buộc truy xuất nguồn gốc sẽ làm tăng thêm chi phí.

Bởi vì mỗi chai rượu, mỗi chai nước đều phải có thông tin được đưa vào hệ thống. Ngay tại dây chuyền sản xuất, doanh nghiệp có thể phải đầu tư thêm thiết bị để in hoặc gắn mã lên sản phẩm. Sau đó, khi sản phẩm đi qua các kho, lại phải có thiết bị và phần mềm để cập nhật dữ liệu, ghi nhận chai rượu này đi qua kho nào, đến siêu thị nào. Tất cả đều phát sinh chi phí tuân thủ.

Nhưng sau đó, Hiệp hội Rượu châu Âu có trao đổi với tôi rằng họ rất muốn thông qua Bộ Công Thương để phổ biến việc truy xuất nguồn gốc nhằm ngăn chặn tình trạng tiêu thụ rượu giả, đặc biệt là các loại whisky nổi tiếng tại Việt Nam. Hiện nay, hầu hết các chai rượu whisky của châu Âu đều cho phép truy xuất từng chai, thậm chí có thể biết được sản phẩm đến từ vùng nào và các thông tin liên quan.

Điều đó cho thấy, nếu doanh nghiệp làm truy xuất nguồn gốc một cách nghiêm túc thì bản thân doanh nghiệp cũng quản trị được sản phẩm và chất lượng tốt hơn. Với lực lượng quản lý thị trường, chúng tôi rất vất vả trong công tác kiểm tra, không chỉ hàng giả mà còn những mặt hàng ảnh hưởng đến sức khỏe, trong đó có vấn đề về chất lượng và thành phần sản phẩm.

Ví dụ, hiện nay đi đâu cũng thấy quảng cáo rượu sâm Ngọc Linh. Người dân hỏi tôi sản phẩm này có phải sâm Ngọc Linh thật hay không, nhưng lực lượng quản lý thị trường không thể chỉ nhìn vào sản phẩm mà xác định được. Muốn quản lý được thì phải có quy định và có cơ sở để xác định nguồn gốc, chất lượng của sản phẩm.

Do đó, vấn đề này cần Nhà nước đưa ra quy định và doanh nghiệp phải tuân thủ. Tôi muốn nhấn mạnh lại rằng, doanh nghiệp làm truy xuất nguồn gốc không chỉ để đáp ứng yêu cầu quản lý, mà trước hết là để xây dựng hình ảnh, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo niềm tin với người tiêu dùng.

Khi quản lý chất lượng sản phẩm ngày càng quan trọng thì hệ thống truy xuất nguồn gốc, với sự hỗ trợ của công nghệ, sẽ là một trong những công cụ phổ biến để doanh nghiệp quản lý sản phẩm tốt hơn và hỗ trợ chống hàng giả.

Chẳng hạn, cùng là hai chai rượu của một doanh nghiệp nhưng nếu mỗi chai có một mã riêng, khi hệ thống phát hiện một mã được truy xuất bất thường, chẳng hạn cùng một mã nhưng xuất hiện ở những địa điểm khác nhau, doanh nghiệp có thể nhận diện nguy cơ hàng giả và lần theo được chai rượu đó đang ở đâu.

Cuối cùng, tôi vẫn muốn nhấn mạnh rằng hiệu quả của truy xuất nguồn gốc xuất phát từ sự cam kết của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp thực sự muốn làm, muốn bảo vệ thương hiệu và sản phẩm của mình thì truy xuất nguồn gốc mới phát huy được giá trị.

MC: Ở đây còn có đại diện 1 doanh nghiệp lớn đến từ Nhật cung cấp giải pháp này, Công ty Sato Việt Nam. Xin ông YuikyAoyagi – Trưởng phòng kinh doanh - có thể chia sẻ thêm 1 chút về cảm nhận của ông đối với vấn đề này ở Việt Nam hiện nay cũng như kinh nghiệm của Nhật Bản?

Ông YuikyAoyagi: Trước hết, tôi xin giới thiệu một chút về SATO Việt Nam. Tập đoàn SATO đã có lịch sử 86 năm trên thế giới. Đến nay, chúng tôi tập trung cung cấp các sản phẩm như tem nhãn, máy in và các giải pháp liên quan đến nhận diện, quản lý sản phẩm.

Đặc biệt, SATO đang triển khai các giải pháp truy xuất nguồn gốc và đã có kinh nghiệm thực hiện thành công cho nhiều nhà máy tại Việt Nam. Với một số nhà máy, quá trình triển khai có thể kéo dài vài năm, được thực hiện theo từng giai đoạn và từng nhà máy, bởi truy xuất nguồn gốc cần được xây dựng xuyên suốt từ nguyên vật liệu đầu vào cho đến khi trở thành thành phẩm.

tx9-1604
Ông YuikyAoyagi cho rằng truy xuất nguồn gốc không chỉ là việc gắn một mã lên sản phẩm, mà cần được xây dựng thành một giải pháp tổng thể.

Từ kinh nghiệm của chúng tôi tại Nhật Bản, tôi nhận thấy người tiêu dùng ở đó có yêu cầu rất cao về tính minh bạch của sản phẩm. Ví dụ, với một chai nước, nếu sản phẩm không có mã QR hoặc không có khả năng truy xuất nguồn gốc, dù giá rẻ, người tiêu dùng vẫn có thể cảm thấy lo lắng khi lựa chọn. Ngược lại, nếu sản phẩm có thể cung cấp thông tin rõ ràng về nguồn gốc, quá trình sản xuất và có hệ thống truy xuất đáng tin cậy, người tiêu dùng sẵn sàng trả mức giá cao hơn để mua sản phẩm đó.

Tôi cho rằng đây cũng là xu hướng mà thị trường Việt Nam sẽ từng bước hướng tới. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp vẫn đang sử dụng mã vạch để nhận diện sản phẩm, nhưng cùng với sự phát triển của công nghệ, chúng ta có thêm nhiều phương thức để truy xuất nguồn gốc như mã QR hay RFID.

Trong đó, RFID có ưu điểm là khả năng nhận diện và quản lý sản phẩm hiệu quả, đồng thời khó bị làm giả, sao chép hoặc làm nhái hơn so với một số phương thức nhận diện truyền thống. Việc lựa chọn công nghệ nào sẽ phụ thuộc vào đặc thù sản phẩm, quy trình sản xuất và nhu cầu quản lý của từng doanh nghiệp.

Từ kinh nghiệm triển khai tại Nhật Bản và Việt Nam, tôi cho rằng truy xuất nguồn gốc không chỉ là việc gắn một mã lên sản phẩm, mà cần được xây dựng thành một giải pháp tổng thể, giúp doanh nghiệp quản lý được hành trình của sản phẩm từ nguyên vật liệu đầu vào cho đến thành phẩm và cung cấp thông tin đáng tin cậy cho người tiêu dùng.

MC: Giả sử nếu ngày mai xuất hiện sự cố chất lượng với sản phẩm, doanh nghiệp mất bao lâu để xác định: lô sản phẩm bị ảnh hưởng; khu vực phân phối; số lượng cần thu hồi?" Với các giải pháp mà DN đang cung cấp, nếu có sự cố tương tự thì việc truy vết, xử lý ra sao, thưa ông YuikyAoyagi?

Ông YuikyAoyagi: Khi xảy ra vấn đề về chất lượng, trước tiên doanh nghiệp có thể tra cứu trên hệ thống thông qua các thông tin định danh của sản phẩm như số lô, số serial hoặc hạn sử dụng. Từ những dữ liệu này, hệ thống có thể hỗ trợ doanh nghiệp truy vết ngược lại quá trình của sản phẩm để xác định chính xác sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm bị ảnh hưởng.

Ví dụ, nếu phát hiện một chai nước có vấn đề về chất lượng, thay vì phải thu hồi toàn bộ sản phẩm đã đưa ra thị trường, doanh nghiệp có thể dựa vào số lô hoặc số serial của sản phẩm được báo lỗi để xác định những sản phẩm liên quan.

Điều này giúp doanh nghiệp khoanh vùng sự cố chính xác hơn, từ đó tiết kiệm đáng kể thời gian xử lý và chi phí thu hồi. Quan trọng hơn, doanh nghiệp không nhất thiết phải thu hồi toàn bộ sản phẩm cùng một lúc mà có thể tập trung xử lý đúng lô hàng hoặc những sản phẩm thực sự bị ảnh hưởng.

Theo tôi, đây chính là một trong những giá trị quan trọng của hệ thống truy xuất nguồn gốc. Không chỉ giúp doanh nghiệp biết sản phẩm được tạo ra như thế nào, hệ thống còn phải hỗ trợ doanh nghiệp nhanh chóng xác định vấn đề nằm ở đâu và đưa ra phương án xử lý phù hợp khi có sự cố xảy ra.

MC: Thế giới đang chuyển rất nhanh sang các tiêu chuẩn minh bạch dữ liệu. Theo ông, doanh nghiệp Việt có thể đối mặt với những rủi ro gì nếu chậm triển khai truy xuất nguồn gốc?"

Ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương: Dù doanh nghiệp triển khai sớm hay muộn thì xu hướng minh bạch thông tin, truy xuất nguồn gốc vẫn là yêu cầu tất yếu của thị trường hiện nay.

Theo tôi, chậm hay không chậm thì xu hướng của thế giới hiện nay vẫn là phải công khai, minh bạch. Nếu không minh bạch thì rất khó để hàng hóa của chúng ta có thể đi vào các thị trường lớn.

Chẳng hạn, hiện nay khi đưa sản phẩm vào thị trường EU, doanh nghiệp không chỉ phải đáp ứng các yêu cầu về chất lượng mà còn phải chứng minh được nhiều yếu tố liên quan đến môi trường, sản xuất xanh, phát triển bền vững. Với thủy sản, nếu chúng ta không kiểm soát được nguồn gốc, quá trình khai thác thì hàng hóa có thể phải đối mặt với những rào cản thương mại, thậm chí chịu các mức thuế hoặc biện pháp kiểm soát cao hơn.

Ngay cả một sản phẩm như quả sầu riêng, để xuất khẩu được cũng phải truy xuất được nguồn gốc, phải xác định mã số vùng trồng. Muốn làm được điều đó thì không chỉ doanh nghiệp mà cả người sản xuất, bà con nông dân cũng phải được tuyên truyền, hướng dẫn để hiểu rõ yêu cầu về xuất xứ và nguồn gốc hàng hóa.

Tôi cho rằng, một thị trường mà chúng ta muốn được hưởng những ưu đãi về thuế quan thì trước hết phải kiểm soát được chuỗi cung ứng và chứng minh được nguồn gốc hàng hóa. Vì vậy, không chỉ thị trường xuất khẩu mà ngay cả thị trường nội địa cũng cần phải kiểm soát tốt vấn đề này.

Bây giờ, người tiêu dùng trong nước cũng ngày càng thông thái và có nhu cầu cao hơn về thông tin sản phẩm. Họ muốn biết sản phẩm mình mua có nguồn gốc từ đâu, được sản xuất như thế nào và có bảo đảm hay không. Do đó, việc làm rõ nguồn gốc hàng hóa không chỉ là yêu cầu của cơ quan quản lý hay của thị trường xuất khẩu mà cũng là nhu cầu thực tế từ chính người tiêu dùng.

Ví dụ như một chai Lavie, hiện nay người tiêu dùng có thể kiểm tra mã và biết được thông tin liên quan đến sản phẩm. Đó chính là xu hướng mà chúng ta phải hướng tới.

Vì vậy, theo tôi, vấn đề không phải là chậm hay không chậm. Truy xuất nguồn gốc là việc chúng ta vẫn phải làm và càng làm sớm, càng làm bài bản thì doanh nghiệp càng có lợi thế, người tiêu dùng càng được bảo vệ và công tác quản lý thị trường cũng hiệu quả hơn.

”Tôi cho rằng, truy xuất nguồn gốc vì thế cần được nhìn nhận không chỉ như một yêu cầu kỹ thuật mà là một phần quan trọng trong quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam. Khi doanh nghiệp kiểm soát được dữ liệu và minh bạch được chuỗi cung ứng, sản phẩm sẽ có thêm cơ sở để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cả thị trường trong nước và quốc tế.

MC: Thông tư đã có, danh mục rủi ro cũng đã ra nhưng thực tế cảm giác vẫn có doanh nghiệp không muốn mình nằm vào danh mục rủi ro cao, để phải truy xuất sớm. Vậy theo ông, điều quan trọng hơn trong giai đoạn tới là: Bắt buộc nhiều đối tượng doanh nghiệp tham gia hơn, hay nâng chất lượng truy xuất nguồn gốc để dữ liệu thực sự đáng tin cậy?

Ông Trần Hữu Linh: Tôi mong muốn ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia truy xuất nguồn gốc, nhưng quan trọng hơn là dữ liệu phải được xây dựng bài bản, đầy đủ và đáng tin cậy. Có như vậy mới tạo được uy tín cho việc doanh nghiệp chủ động thực hiện truy xuất nguồn gốc một cách đồng bộ.

Đối với những mặt hàng thuộc diện bắt buộc, đặc biệt là nhóm có rủi ro cao, doanh nghiệp cần tuân thủ đúng quy định pháp luật. Ở góc độ quản lý thị trường, chúng tôi cũng rất mong doanh nghiệp có trách nhiệm với sản phẩm của mình, không ngừng cải tiến chất lượng. Truy xuất nguồn gốc sẽ là công cụ thuận tiện để lực lượng chức năng kiểm tra hàng thật, hàng giả, đồng thời trao cho người tiêu dùng khả năng tự bảo vệ mình.

Tuy nhiên, tôi hiểu những băn khoăn của doanh nghiệp khi chi phí tuân thủ tăng lên, từ đầu tư thiết bị, phần mềm quản lý, cơ sở dữ liệu đến công nghệ in ấn. Vì vậy, doanh nghiệp có thể lựa chọn phương án triển khai từng bước: trước tiên truy xuất đối với thành phẩm, in nhãn và cung cấp những thông tin cơ bản, sau đó mở rộng sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Nếu dữ liệu được kết nối ngày càng đầy đủ, cùng với các hệ thống mà Nhà nước xây dựng, chúng ta có thể hình thành một mạng lưới dữ liệu lớn, tạo môi trường thuận lợi cho những doanh nghiệp làm ăn chân chính và góp phần loại bỏ hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng.

MC: Từ kinh nghiệm thực tế, đâu là khó khăn lớn nhất khi triển khai truy xuất nguồn gốc: chi phí đầu tư, thay đổi quy trình, chuẩn hóa dữ liệu hay thay đổi nhận thức của đội ngũ? Doanh nghiệp đã vượt qua khó khăn đó như thế nào?

Bà Hoàng Thị Thu Giang: Với doanh nghiệp sản chúng tôi, việc quản trị nội bộ đã có các tiêu chuẩn như ISO, HACCP, thậm chí các hệ thống quản lý khác, cho phép truy xuất nguồn gốc và truy lô đến từng sản phẩm. Thông qua hệ thống phân phối, chúng tôi cũng có thể biết lô hàng này xuất đến đối tác nào. Việc này chúng tôi đã thực hiện từ rất lâu.

Tuy nhiên, truy xuất nguồn gốc ở phạm vi rộng hơn hiện nay là một câu chuyện khác, đòi hỏi một hệ thống công nghệ hoàn toàn mới, bao gồm cả phần cứng, phần mềm và đặc biệt là việc duy trì hệ thống cơ sở dữ liệu trong nhiều năm. Càng sản xuất nhiều, càng truy xuất nhiều thì dữ liệu càng lớn, đòi hỏi hệ thống máy chủ và bộ nhớ lớn hơn, và đó chính là chi phí mà doanh nghiệp phải đầu tư.

tx16-1639
Bà Giang cho rằng, truy xuất nguồn gốc đòi hỏi một hệ thống công nghệ hoàn toàn mới, bao gồm cả phần cứng, phần mềm.

Nếu hỏi doanh nghiệp có sẵn sàng làm hay không thì câu trả lời của tôi là có. Thậm chí, tôi còn đề xuất với Cục trưởng để doanh nghiệp chúng tôi được đưa vào nhóm ngành, hàng hóa bắt buộc thực hiện truy xuất nguồn gốc. Chúng tôi sẵn sàng đầu tư và sẵn sàng bỏ ra chi phí, trước hết để bảo vệ người tiêu dùng và bảo vệ chính doanh nghiệp mình. Chúng tôi cũng có hoạt động xuất khẩu, nên việc minh bạch thông tin là yêu cầu từ phía khách hàng và thị trường. Khi đã đáp ứng được yêu cầu của thị trường xuất khẩu thì việc tuân thủ trong nước cũng không phải là vấn đề quá lớn.

Điều chúng tôi quan tâm là chi phí tuân thủ và môi trường thực thi. Lực lượng thực thi ở cơ sở phải bảo đảm một môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng giữa những doanh nghiệp tuân thủ tốt và những doanh nghiệp không tuân thủ. Chúng tôi không ngại tuân thủ, cũng không ngại đầu tư, chỉ lo rằng nếu môi trường kinh doanh không công bằng thì khoảng cách chi phí giữa doanh nghiệp tuân thủ và không tuân thủ sẽ trở thành một vấn đề rất lớn.

Một vấn đề nữa tôi rất mong các cơ quan báo chí, truyền thông cùng đồng hành. Truy xuất nguồn gốc tuy không còn là khái niệm quá mới nhưng với người tiêu dùng Việt Nam, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, nhận thức về vấn đề này vẫn còn tương đối hạn chế.

Đây không phải là câu chuyện chỉ cần tuyên truyền một lần qua một hội thảo hay một tọa đàm là đủ, mà cần một nỗ lực bền bỉ, liên tục để nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về cách tự bảo vệ mình. Khi doanh nghiệp có một mã truy xuất để khẳng định trách nhiệm đối với sản phẩm của mình, người tiêu dùng cũng cần biết sử dụng công cụ đó như một biện pháp đầu tiên để bảo vệ chính mình và trở thành người tiêu dùng thông thái.

Tôi rất mong các cơ quan báo chí có những tuyến bài, series thông tin thường xuyên, vừa phổ biến chính sách, pháp luật cho doanh nghiệp, vừa nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về truy xuất nguồn gốc, để việc này thực sự trở thành một thói quen trong tiêu dùng.

MC: Một số ý kiến cho rằng doanh nghiệp lớn như Newbev, Thành Thành Công - Biên Hòa hay các đại gia như Mansan, Vinamilk… ngồi đây thì triển khai truy xuất nguồn gốc không khó vì có nguồn lực tài chính. Nhưng với doanh nghiệp vừa và nhỏ, đây vẫn là một khoản đầu tư đáng cân nhắc. Theo ông, lợi ích thực tế có đủ lớn để bù đắp chi phí hay không?

Ông Phạm Văn Quân: Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc cho phép triển khai từng bước, trước hết tập trung vào việc thu thập dữ liệu đầu vào và định danh sản phẩm. Để tiết kiệm chi phí, doanh nghiệp nhỏ có thể sử dụng tem QR in và dán thủ công, miễn đáp ứng các yêu cầu về dữ liệu và chia sẻ thông tin cho người tiêu dùng.

Với doanh nghiệp lớn, nhiều đơn vị đã đầu tư hệ thống hàng tỷ đồng nên không nhất thiết phải bỏ hệ thống cũ để làm lại từ đầu. Theo tôi, điều quan trọng là thay đổi tư duy: thay vì coi truy xuất nguồn gốc đơn thuần là một khoản “chi phí bắt buộc”, cần nhìn đây là khoản đầu tư có thể tạo ra hiệu quả. Các chuyên gia có thể khảo sát hệ thống hiện có, tận dụng dữ liệu và xây dựng API để chuẩn hóa, kết nối với các nền tảng truy xuất.

Hiện nay, doanh nghiệp cũng có thể ứng dụng các giải pháp in QR trực tiếp trên dây chuyền, với chi phí thấp cho từng sản phẩm. Khi đó, mã QR không chỉ phục vụ truy xuất mà còn có thể trở thành công cụ quản lý sản phẩm, chống giả, quản lý chuỗi cung ứng, kết nối nền tảng quốc gia và triển khai các chương trình marketing.

Quan trọng hơn, truy xuất nguồn gốc giúp doanh nghiệp khoanh vùng khi có sự cố. Nếu một lô sản phẩm gặp lỗi, doanh nghiệp có thể xác định và thu hồi đúng lô đó thay vì phải thu hồi toàn bộ sản phẩm. Trước đây, trường hợp Samsung Galaxy Note 7 là một ví dụ cho thấy khi không truy xuất được nguồn gốc linh kiện, việc xử lý sự cố có thể phải mở rộng trên diện rất lớn.

Vì vậy, tôi cho rằng doanh nghiệp không nên đầu tư ồ ạt hay triển khai tất cả cùng lúc. Có thể bắt đầu từ định danh nguyên liệu, định danh sản phẩm, sau đó mở rộng sang quản lý hệ thống sản xuất và chuỗi cung ứng. Điều quan trọng là xây dựng lộ trình phù hợp, triển khai bài bản từng bước và lựa chọn đúng đơn vị cung cấp giải pháp, chuyên gia tư vấn để tránh đầu tư nhưng không đáp ứng đúng yêu cầu về truy xuất nguồn gốc.

Qua chia sẻ của các chuyên gia, chúng tôi hiểu rằng truy xuất nguồn gốc không chỉ là việc tạo mã QR mà còn là một phần trong quản trị sản phẩm. Với doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc triển khai hiện nay cũng không nhất thiết phải đầu tư hệ thống quá lớn. Vậy trong quá trình đưa dữ liệu lên hệ thống, có giải pháp nào giúp doanh nghiệp giảm nhập liệu thủ công và thực hiện nhanh, hiệu quả hơn không?

Ông Phạm Văn Quân: Đây là vấn đề hầu hết các doanh nghiệp đều gặp phải. Khi đã ứng dụng công nghệ thì mục tiêu là phải tiết kiệm chi phí quản lý và nhân sự. Cách đơn giản nhất trong truy xuất nguồn gốc là trước hết định danh doanh nghiệp, sau đó định danh từng sản phẩm và tạo thông tin cho từng sản phẩm.

Ví dụ, một doanh nghiệp sản xuất nước có các loại chai 300 ml, 500 ml, 1 lít, 1,5 lít hay 5 lít thì sẽ định danh từng sản phẩm với những thông tin chung. Khi sản xuất, quy trình cơ bản giống nhau, chỉ khác ở nguồn nguyên liệu và từng lô, mẻ, thời gian sản xuất.

Sau khi sản xuất, doanh nghiệp có thể sử dụng công nghệ để kích hoạt thông tin mã QR theo từng lô, mẻ. Nếu số lượng sản phẩm lớn, có thể sử dụng camera trên băng tải để nhận diện mã hoặc chip, thay vì phải có người kích hoạt và khai báo từng sản phẩm.

Nếu một người phải thực hiện thủ công từng sản phẩm thì chi phí nhân sự hàng tháng là rất lớn. Trong khi đó, nếu đầu tư một dây chuyền tự động với chi phí vài chục triệu đồng, doanh nghiệp có thể thu hồi vốn sau một thời gian ngắn và sử dụng trong nhiều năm, qua đó giảm đáng kể chi phí vận hành.

Về bản chất, dữ liệu sẽ được định danh theo sản phẩm và quy trình. Trong quá trình sản xuất, doanh nghiệp chủ yếu cập nhật hai nhóm thông tin thay đổi là nguồn nguyên liệu và lô, thời gian sản xuất. Khi những dữ liệu này được tự động hóa, việc truy xuất sẽ nhanh và chính xác hơn rất nhiều.

Ông Phạm Trung Phan Xuân Quang: Tôi xin bổ sung thêm từ kinh nghiệm thực tế của doanh nghiệp. Bản chất là dữ liệu được định danh và phân chia theo từng công đoạn. Quan trọng hơn, doanh nghiệp có thể ứng dụng công nghệ IoT, các hệ thống hiện đại như camera AI để nhận diện và thu thập dữ liệu.

Những công việc trước đây phải có nhân sự nhập liệu thủ công thì hiện nay các hệ thống cảm biến có thể đảm nhiệm. Chúng tôi cũng đang nghiên cứu và triển khai các ứng dụng này để giảm thiểu nhân sự nhưng vẫn bảo đảm dữ liệu được cập nhật chính xác, kịp thời và đáp ứng yêu cầu về thời gian trong quá trình truy xuất.

Sau gần hai giờ trao đổi, tọa đàm "Truy xuất nguồn gốc - Lá chắn bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng" đã mang đến nhiều góc nhìn thiết thực từ cơ quan quản lý, chuyên gia, báo chí và cộng đồng doanh nghiệp.

Dù tiếp cận ở những góc độ khác nhau, các diễn giả đều cùng khẳng định một thông điệp chung: truy xuất nguồn gốc không chỉ giúp đáp ứng yêu cầu quản lý mà còn góp phần bảo vệ thương hiệu, nâng cao hiệu quả quản trị và tạo niềm tin cho người tiêu dùng.

Những phân tích tại tọa đàm cho thấy, để truy xuất nguồn gốc thực sự trở thành công cụ quản lý và bảo vệ thương hiệu, doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống dữ liệu xuyên suốt, từ khâu sản xuất, chế biến đến phân phối và điểm bán. Thực tế triển khai tại các doanh nghiệp trong lĩnh vực bán lẻ và sản xuất thực phẩm cho thấy yêu cầu này đang từng bước được cụ thể hóa. 

WinMart/WinMart+/Win: Kiểm soát nguồn gốc xuyên suốt chuỗi cung ứng 

WinMart/WinMart+/Win là chuỗi bán lẻ hiện đại có quy mô lớn nhất Việt Nam với hơn 5.000 siêu thị và cửa hàng tại 34 tỉnh, thành, phục vụ khoảng 500 triệu lượt khách mỗi năm. Tại hệ thống, việc kiểm soát nguồn gốc hàng hóa được thực hiện xuyên suốt toàn bộ chuỗi cung ứng, từ khâu lựa chọn nhà cung cấp, nhập kho đến khi sản phẩm được bày bán trên quầy kệ. 

Là thành viên của Tập đoàn Masan, WinMart/WinMart+ đồng thời phát huy lợi thế của hệ sinh thái trong việc phối hợp với các đơn vị sản xuất như WinEco, Masan MEATLife (MEATDeli), Masan Consumer để tăng cường khả năng truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng xuyên suốt từ trang trại đến điểm bán. Các đơn vị trong hệ sinh thái cũng như tất cả các nhà cung cấp khác đều phải tuân thủ cùng một hệ thống tiêu chuẩn đánh giá, kiểm soát chất lượng và an toàn thực phẩm. Điều này bảo đảm mọi sản phẩm bày bán tại WinMart/WinMart+ đều được quản lý theo một nguyên tắc thống nhất, minh bạch và đặt quyền lợi của người tiêu dùng lên hàng đầu.

 Masan MEATLife: Số hóa truy xuất đến cấp độ sản phẩm bán lẻ 

Về Masan MEATLife đã xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc trên toàn chuỗi, trong đó toàn bộ dữ liệu sản xuất, chế biến và phân phối đều được ghi nhận đầy đủ trên các hệ thống nội bộ như Oracle ERP và nền tảng vận hành sản xuất đảm bảo: 

- 100% sản phẩm thịt heo và thịt gà đều được gắn mã QR truy xuất- Người tiêu dùng có thể tra cứu thông tin thông qua website truy xuất riêng của MeatDeli 

- Đơn vị truy xuất đạt tới cấp độ sản phẩm bán lẻ (hộp/túi/thùng thịt) 

- Phạm vi số hóa hiện đã triển khai sâu tại công đoạn giết mổ, và đang từng bước mở rộng 

Hệ thống giúp Masan MEATLife có thể truy xuất nguồn gốc gần như ngay lập tức khi cần kiểm tra hoặc xử lý sự cố, đảm bảo kiểm soát truy vết xuyên suốt chuỗi cung ứng, tăng tính minh bạch với người tiêu dùng và sẵn sàng phục vụ hoạt động thanh tra khi được yêu cầu.

Tạp chí Tiếp thị và Gia đình trân trọng cảm ơn sự đồng hành quý báu của các đơn vị, đối tác và doanh nghiệp:

• Tổng công ty Cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội (HABECO);

• Công ty TNHH GS 25 Vietnam;

• Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền;

• Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Á;

• Công ty Cổ phần Đồ Uống Mới;

• Công ty TNHH Fonterra Brands (Việt Nam);

• Công ty TNHH Danone Việt Nam;

• Công ty Cổ phần Thành Thành Công – Biên Hòa;

• Công ty TNHH Giải pháp SATO Việt Nam;

Sự tin tưởng và đồng hành của quý đơn vị là nguồn động lực quan trọng, góp phần tạo nên thành công của tọa đàm “Truy xuất nguồn gốc - Lá chắn bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng”. Ban Tổ chức xin trân trọng cảm ơn!

Đừng bỏ lỡ

Cùng chuyên mục