Hà Nội tập huấn cách nhận diện nguồn ô nhiễm và đọc dữ liệu chất lượng không khí
Sáng 23/9 tại Hà Nội, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội tổ chức hội nghị tập huấn về nhận diện nguồn ô nhiễm, đọc dữ liệu quan trắc và truyền thông chất lượng không khí. Chương trình hướng tới giúp cán bộ cơ sở, các đơn vị liên quan và báo chí sử dụng thông tin đúng phạm vi, từ đó lựa chọn cách ứng phó phù hợp.
Hà Nội chủ động kiểm soát ô nhiễm không khí trước mùa Đông – Xuân
Ô nhiễm không khí tại Hà Nội: Những biện pháp kiểm soát đang phát huy hiệu quả đến đâu?
Các biện pháp phòng ngừa và bảo vệ sức khỏe khi chỉ số chất lượng không khí ở mức xấu
Nhận diện đúng nguồn gây ô nhiễm
Ô nhiễm không khí đang là một trong những vấn đề môi trường được quan tâm tại các đô thị lớn, đặc biệt khi Hà Nội chuẩn bị bước vào mùa đông - xuân, thời điểm điều kiện khí tượng có thể hạn chế khả năng khuếch tán các chất ô nhiễm.
Theo số liệu tổng hợp của Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, từ ngày 1/1 đến 11/8/2026, tỷ lệ ngày có chất lượng không khí ở mức tốt và trung bình đạt 73,28%, nồng độ PM2.5 trung bình là 40,95 µg/m³. Tuy nhiên, các giá trị có thể thay đổi theo thời gian, vị trí, hoạt động phát thải và điều kiện thời tiết.
GS.TS Hoàng Xuân Cơ chia sẻ về nhận diện nguồn phát thải và vai trò của cấp cơ sở trong giám sát, kiểm soát ô nhiễm không khí
Trình bày tại hội nghị, GS.TS Hoàng Xuân Cơ cho biết, chất lượng không khí phản ánh hàm lượng các chất có trong không khí, bao gồm các chất ô nhiễm dạng khí và dạng hạt. Việc hiểu đúng về chất lượng không khí có ý nghĩa quan trọng bởi đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống và các hoạt động thường ngày của người dân.
Nguồn gây ô nhiễm không khí rất đa dạng, có thể bắt nguồn từ tự nhiên hoặc phát sinh từ hoạt động của con người như sản xuất, giao thông vận tải, xây dựng, nông nghiệp và sinh hoạt. Số liệu được công bố tại Hội nghị liên vùng ngày 4/6/2026 cho thấy, trong cơ cấu đóng góp PM2.5 tại Hà Nội, bụi thứ cấp chiếm khoảng 27%, giao thông vận tải 23%, xây dựng và bụi đường 20%, đốt mở 12%, công nghiệp 10% và các nguồn khác khoảng 8%. Điều này cho thấy ô nhiễm không khí không xuất phát từ một nguồn duy nhất mà là kết quả tổng hợp của nhiều nhóm nguồn phát thải.
GS.TS Hoàng Xuân Cơ cũng nhấn mạnh: “Cán bộ xã, phường là những người nắm tương đối sát hoạt động sản xuất, công trình xây dựng hay tình trạng đốt ngoài trời trên địa bàn. Những thông tin từ cơ sở là đầu vào quan trọng để thành phố kiểm kê nguồn thải một cách đầy đủ, từ đó xác định khu vực có nguy cơ ô nhiễm và lựa chọn giải pháp kiểm soát phù hợp”.
Đọc đúng dữ liệu để hiểu đúng chất lượng không khí
Nếu kiểm kê nguồn thải giúp xác định chất ô nhiễm đến từ đâu thì dữ liệu quan trắc cho biết chất lượng không khí tại một địa điểm và thời điểm cụ thể.
PGS.TS Lý Bích Thủy hướng dẫn cách tiếp cận, khai thác và sử dụng dữ liệu chất lượng không khí
Theo PGS.TS Lý Bích Thủy, ô nhiễm không khí là sự thay đổi thành phần của không khí với sự xuất hiện hoặc gia tăng các chất ô nhiễm dạng khí, dạng bụi. Trong đó, có những chất được phát thải trực tiếp từ nguồn và những chất được hình thành trong khí quyển thông qua các quá trình biến đổi.
Hiện nay, chất lượng không khí có thể được theo dõi, đánh giá thông qua nhiều công cụ như trạm quan trắc tiêu chuẩn, thiết bị cảm biến, lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm, dữ liệu vệ tinh hay các mô hình mô phỏng, dự báo. Mỗi phương pháp có đặc điểm và mục đích sử dụng khác nhau, vì vậy nguồn dữ liệu là yếu tố cần được xem xét trước khi đưa ra kết luận về tình trạng không khí.
Từ các thông số quan trắc, AQI (chỉ số chất lượng không khí) được tính toán nhằm thể hiện tình trạng chất lượng không khí và mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe trên một thang điểm. Tuy nhiên, AQI và nồng độ của một chất ô nhiễm cụ thể như PM2.5 là hai thông tin khác nhau; ngay cả AQI theo giờ và AQI theo ngày cũng phản ánh những khoảng thời gian khác nhau.
Đáng chú ý, giá trị VN_AQI tại các trạm quan trắc khác nhau có thể khác nhau do phản ánh chất lượng không khí tại từng khu vực. Vì vậy, kết quả tại một trạm, ở một thời điểm không thể mặc nhiên được xem là đại diện cho toàn thành phố. Trước khi sử dụng một chỉ số, cần xác định rõ nguồn công bố, vị trí trạm, thời điểm đo và loại dữ liệu.
Cũng cần phân biệt dữ liệu quan trắc với dự báo chất lượng không khí. Nếu quan trắc phản ánh tình trạng được ghi nhận tại thời điểm và vị trí đo thì dự báo nhằm cảnh báo sớm nguy cơ ô nhiễm trong thời gian tới và luôn tồn tại mức độ bất định nhất định. Việc đánh đồng một chỉ số dự báo với kết quả đã được đo có thể dẫn đến cách hiểu sai về tình trạng thực tế.
Truyền thông cần “đúng, đủ và có ích”
Khi các chỉ số chất lượng không khí được cập nhật liên tục trên ứng dụng, nền tảng trực tuyến và mạng xã hội, việc truyền tải thông tin chính xác tới cộng đồng càng trở nên quan trọng. Một con số nếu bị tách khỏi nguồn dữ liệu, địa điểm, thời gian và bối cảnh có thể dẫn tới những kết luận vượt quá những gì dữ liệu thực sự phản ánh.
Bà Ngô Hà chia sẻ về cách cung cấp thông tin và truyền thông về ô nhiễm không khí chính xác, đầy đủ và hữu ích.
Theo bà Ngô Hà, thông tin về chất lượng không khí cần bảo đảm ba yếu tố: đúng, đủ và có ích. “Đúng” là xác định rõ nguồn thông tin, thời điểm và phân biệt dữ liệu quan trắc với dự báo; “đủ” là không đưa một con số tách rời khỏi bối cảnh; còn “có ích” là giúp người dân hiểu được tình trạng chất lượng không khí để có cách ứng xử phù hợp, chủ động bảo vệ sức khỏe.
Điều này cũng đặt ra yêu cầu đối với báo chí, truyền thông: không chỉ đưa tin nhanh mà cần chuyển tải những dữ liệu mang tính chuyên môn bằng ngôn ngữ chính xác, dễ hiểu. Đặc biệt, khi sử dụng các con số liên quan đến ô nhiễm không khí, cần nói rõ phạm vi và tính chất của dữ liệu, tránh từ một kết quả tại một trạm hoặc một thời điểm đưa ra nhận định cho phạm vi rộng hơn.
Cùng với nâng cao nhận thức và chất lượng truyền thông, các chuyên gia đề cập ba nhóm giải pháp kỹ thuật gồm giảm phát thải tại nguồn, xử lý cuối nguồn và tăng cường mức độ phát tán. Trong đó, kiểm soát và giảm phát thải ngay từ nguồn có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện chất lượng không khí một cách lâu dài.
Từ nhận diện nguồn thải, đọc đúng dữ liệu đến truyền tải thông tin chính xác, kiểm soát ô nhiễm không khí cần sự phối hợp của cơ quan quản lý, chính quyền cơ sở, giới chuyên môn, báo chí và cộng đồng. Khi nguồn thải được nhận diện sát thực tế, số liệu được đặt đúng phạm vi và thông tin được truyền tải đúng bản chất, những cảnh báo về chất lượng không khí mới thực sự trở thành cơ sở để cộng đồng chủ động bảo vệ sức khỏe và chuyển nhận thức thành hành động.