Gà từ trang trại nuôi gia công cho CP Việt Nam gây ô nhiễm vẫn vào chuỗi tiêu thụ: Người tiêu dùng đặt câu hỏi về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Công ty CP Chăn nuôi C.P. Việt Nam tiêu thụ gà từ các trang trại tại Phú Thọ bị phản ánh gây ô nhiễm môi trường, xây chuồng trại quy mô lớn trên đất trồng cây lâu năm đang khiến người dân và người tiêu dùng đặt câu hỏi về việc một doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực thực phẩm có trách nhiệm gì khi sản phẩm được nuôi từ những cơ sở có nhiều vấn đề tồn tại về tuân thủ pháp luật Việt Nam.
Loạt trang trại nuôi gia công cho CP Việt Nam dính vi phạm, khiếu nại
Thời gian gần đây, một số trang trại chăn nuôi gà trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (địa bàn tỉnh Hòa Bình cũ) ký hợp đồng nuôi gia công cho Công ty CP Việt Nam bị người dân phản ánh gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và sử dụng đất không đúng mục đích.
Tài liệu xử lý do chính quyền sở tại và người dân tỉnh Phú Thọ cung cấp cho Tạp chí Tiếp thị và Gia đình là minh chứng cho thực trạng này. Điều đáng nói ở đây không chỉ dừng lại ở hiện tượng đơn lẻ mà các dấu hiệu vi phạm đến từ nhiều trại nuôi gia công cho CP Việt Nam.
Số trang trại này nằm trên địa bàn xã Liên Sơn và xã Cao Dương, tỉnh Phú Thọ. Cụ thể, trang trại ở xã Cao Dương vốn là của ông Nguyễn Văn Hà là trang trại được xây dựng với quy mô lớn. Trang trại này được xây trên diện tích đất trồng cây lâu năm và bị người dân kiến nghị mạnh mẽ về ô nhiễm môi trường.
Ngày 01/12/2023, Chi nhánh Công ty CP Chăn nuôi C.P. Việt Nam – Nhà máy chế biến sản phẩm thịt Hà Nội, địa chỉ tại Lô CN-B3, KCN Phú Nghĩa, xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội (nay là xã Phú Nghĩa, TP Hà Nội) đã ký hợp đồng gia công gà thịt số 001-2023/HĐGCGT-NVH với ông Nguyễn Văn Hà (Chương Mỹ, Hà Nội). Địa chỉ trại xây dựng là ở đội Tân Mỹ, xã Cao Dương, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (nay là xã Cao Dương, tỉnh Phú Thọ).
Diện tích chuông xây dựng là 1.120m2. Số lượng nuôi gia công theo hợp đồng này là 13.000 con.
Đến ngày 02/01/2025, hai bên tiếp tục ký phụ lục hợp đồng số 002/NVH/PLHĐ-2025, quy mô trang trại và số gà được nâng lên cao gấp nhiều lần. Cụ thể, tổng số trại là 03, trong đó, chuồng số 9 có diện tích là 1.408m2 nuôi 16.000 con; chuồng số 10 diện tích là 1.280m2 nuôi 14.000 con; chuồng số 11 diện tích là 1.280m2 nuôi 14.000 con. Tổng 3 trại là 44.000 con. Nền trại lát xi măng, mái trại lợp tôn.
Theo tài liệu, nguồn gốc đất khu đất được ông Nguyễn Văn Hà xây dựng trại quy mô lớn là đất giao khoán của Xí nghiệp Chè Lương Mỹ, thuộc Tổng Công ty TNHH Nhà nước MTV Đầu tư và Phát triển nông nghiệp Hà Nội. Đại diện đứng tên bên giao khoán là ông Lê Hữu Nghĩa, Giám đốc Xí nghiệp chè Lương Mỹ.
Cũng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, một trang trại khác cũng nuôi gia công cho CP Việt Nam cũng được chính quyền xã Liên Sơn xác định là vi phạm các quy định về mục đích sử dụng đất, xây dựng trang trại kiên cố trên đất nông nghiệp.
Từ thực tế này, người dân địa phương đặt câu hỏi là việc một doanh nghiệp lớn như CP Việt Nam tiếp tục tiêu thụ sản phẩm từ các trang trại bị phản ánh vi phạm có đồng nghĩa với việc “nhắm mắt làm ngơ” hoặc tiếp tay cho sai phạm?
Trách nhiệm xã hội của CP Việt Nam khi đầu tư làm ăn tại Việt Nam được xác định ra sao khi sử dụng phương thức nuôi gia công và đẩy phần khó nhất là hạng mục xử lý, đảm bảo vệ sinh môi trường cho các hộ nông dân vốn thiếu nguồn lực, yếu về kiến thức môi trường?
CP Việt Nam: Hợp đồng không ràng buộc về môi trường
Trao đổi với phóng viên Tạp chí Tiếp thị và Gia đình, ông Nguyễn Văn Bồng – Giám đốc phụ trách gà của CP Việt Nam cho biết, trong các hợp đồng hợp tác nuôi gia công giữa công ty và các chủ trang trại không có điều khoản ràng buộc cụ thể về môi trường hay đất đai.
Theo ông Bồng, hợp đồng giữa CP và các hộ chăn nuôi chỉ mang tính chất hợp đồng kinh tế. Các thủ tục pháp lý liên quan đến đất đai, môi trường và điều kiện chăn nuôi là trách nhiệm của chủ trang trại. Doanh nghiệp chỉ xem xét ký hợp đồng khi phía đối tác cung cấp đầy đủ hồ sơ, giấy tờ theo quy định của Nhà nước.
Đối với trang trại của ông Nguyễn Văn Hà tại xã Cao Dương hiện vẫn đang thực hiện hợp đồng gia công cho CP Việt Nam.
Về trang trại vốn được chính quyền sở tại xác định có vi phạm quy định về đất đai, môi trường, ông Bồng cho biết: “Nếu nắm được thông tin vi phạm kịp thời, công ty đã tiến hành ngừng hợp đồng”.
Trả lời nêu trên của ông Bồng mâu thuẫn với chính thực trạng đã được chính quyền sở tại xác định. Và từ trả lời trên đã phần nào làm rõ cho phương pháp lợi dụng các kẽ hở trong quản lý về môi trường ở Việt Nam để kiếm lời của doanh nghiệp.
Các đơn vị quản lý đất: Không cản trở sinh kế hay đang làm ngơ?
Liên quan đến việc trang trại của ông Nguyễn Văn Hà xây dựng chuồng trại diện tích lớn, kiên cố và chăn nuôi trên diện tích đất của xí nghiệp chè, ông Lê Hữu Nghĩa – Giám đốc Xí nghiệp Chè Lương Mỹ cho rằng hoạt động này phù hợp với quy định tại Nghị định 135.
Theo ông Nghĩa, các hộ dân nhận giao khoán đất trồng chè được phép kết hợp chăn nuôi và xây dựng chuồng trại nhằm phát triển kinh tế. Diện tích đất vẫn thuộc quyền quản lý của Xí nghiệp Chè và được giao khoán hợp pháp cho các hộ dân.
Ông Nghĩa bác bỏ ý kiến cho rằng đất trồng chè đã bị chuyển đổi mục đích sử dụng trái phép, đồng thời nhấn mạnh quan điểm tạo điều kiện cho người dân phát triển kinh tế, miễn là không gây ảnh hưởng đến cộng đồng xung quanh.
Trả lời của ông Nghĩa là vậy, còn thượng cấp của ông Nghĩa là lãnh đạo Tổng Công ty TNHH Nhà nước MTV Đầu tư và Phát triển nông nghiệp Hà Nội và cơ quan quản lý chuyên ngành là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Phú Thọ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường liệu có đồng quan điểm, chúng tôi sẽ tiếp tục tham vấn thông tin để cùng làm rõ.
Cũng liên quan đến trách nhiệm quản lý nhà nước trên địa bàn, phóng viên Tạp chí Tiếp thị và Gia đình đã nhiều lần liên hệ, cung cấp tài liệu cho ông Bùi Hữu Điền, Chủ tịch UBND xã Cao Dương vẫn chưa có bất kỳ hồi âm nào.
Từ góc độ xã hội, vụ việc không chỉ dừng lại ở tranh luận pháp lý giữa các bên, mà còn đặt ra vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất – tiêu thụ thực phẩm.
Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nguồn gốc, môi trường và tính bền vững của sản phẩm, việc một doanh nghiệp lớn không có ràng buộc cụ thể về môi trường trong hợp đồng gia công khiến dư luận đặt câu hỏi: ai sẽ chịu trách nhiệm cuối cùng cho sản phẩm đến tay người tiêu dùng?
Sự việc này cũng cho thấy, bên cạnh tuân thủ pháp luật, yếu tố đạo đức kinh doanh và minh bạch chuỗi cung ứng đang trở thành yêu cầu ngày càng rõ ràng từ xã hội đối với các doanh nghiệp thực phẩm quy mô lớn.M